Ngày 14 tháng 7 năm 2026 · TP. Hồ Chí Minh
Hội Phát triển Kinh tế Kim Âu
Thành lập năm 2017 · TP. Hồ Chí Minh

Điều lệ Hội

Quy định tôn chỉ, tổ chức và vận hành của Hội

Điều lệ này quy định tôn chỉ, phạm vi hoạt động, chế độ hội viên, cơ cấu tổ chức, quản lý tài sản và các vấn đề liên quan của Hội Phát triển Kinh tế Kim Âu, có hiệu lực thi hành sau khi được Đại hội đại biểu hội viên thẩm nghị thông qua, là căn cứ cơ bản cho hoạt động quy phạm của Hội. Việc giải thích và sửa đổi Điều lệ được thực hiện theo Điều lệ này và các quy định liên quan.

Chương I

Quy định chung

Điều 1Tên gọi và biểu trưng

Tên gọi của Hội là Hội Phát triển Kinh tế Kim Âu (tên tiếng Việt căn cứ theo văn bản đăng ký). Hội lấy «đỉnh thanh điệu» làm hình tượng cốt lõi của biểu trưng, mang ý nghĩa vững chắc sung túc của «Kim Âu», tượng trưng cho nền tảng học thuật kiên cố và bền lâu; việc sử dụng biểu trưng, tên gọi và các dấu hiệu liên quan được thực hiện theo các quy định liên quan của Hội.

Điều 2Tính chất

Hội là một cộng đồng học thuật kinh tế phi lợi nhuận được đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý hội, không nhằm mục đích lợi nhuận, có tư cách tiến hành hoạt động học thuật độc lập, thực hiện tự chủ vận hành và tự quản.

Điều 3Tôn chỉ

Hội lấy nghiên cứu nghiêm cẩn, thẩm định đồng nghiệp và phục vụ phát triển làm tôn chỉ, giữ vững các nguyên tắc độc lập, công bằng, công khai và chủ nghĩa dài hạn, tập trung vào nghiên cứu, thẩm định, khen thưởng, giao lưu và kiến nghị chính sách trong lĩnh vực kinh tế và tài chính, nỗ lực trở thành một cộng đồng học thuật kinh tế có uy tín.

Điều 4Trụ sở và địa bàn hoạt động

Hội được thành lập năm 2017, trụ sở chính đặt tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam; địa bàn hoạt động bao phủ toàn quốc Việt Nam, đồng thời tiến hành giao lưu và hợp tác với giới kinh tế học ASEAN và quốc tế.

Điều 5Tính độc lập

Các hoạt động nghiên cứu, thẩm định và khen thưởng của Hội được tiến hành độc lập theo chuẩn mực học thuật, không chịu sự can thiệp của hành chính, tài trợ hay bất kỳ yếu tố bên ngoài nào; Hội duy trì mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau và độc lập với các cơ quan chính phủ, doanh nghiệp và bên tài trợ.

Chương II

Phạm vi hoạt động

Điều 6Phạm vi hoạt động

Theo tôn chỉ, Hội triển khai các hoạt động sau:

  1. Tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong lĩnh vực kinh tế và tài chính, đảm nhận và thiết lập đề tài, biên soạn báo cáo nghiên cứu và sách trắng, đồng thời xây dựng cơ chế công bố, trích dẫn và lưu trữ lâu dài cho các thành quả;
  2. Thành lập và vận hành Hội đồng Chuyên gia, độc lập chủ trì việc thẩm định đồng nghiệp đối với đề tài, thành quả nghiên cứu và giải thưởng, xây dựng và thực thi tiêu chí và quy trình thẩm định;
  3. Thiết lập Giải thưởng Kinh tế Kim Âu và tổ chức Diễn đàn Kinh tế thường niên, triển khai đào tạo hội viên, bồi dưỡng học giả trẻ và giao lưu học thuật;
  4. Tổ chức nghiên cứu phương pháp, xây dựng hệ thống chỉ tiêu, quản trị dữ liệu và hỗ trợ chuyển hóa thành quả nghiên cứu thành kiến nghị chính sách cùng công cụ thực tiễn;
  5. Cung cấp kiến nghị chính sách và tư vấn độc lập hướng đến hoạch định và ngành nghề, thúc đẩy việc chuyển hóa và ứng dụng các thành quả nghiên cứu;
  6. Triển khai hợp tác học thuật vùng và quốc tế, đăng cai hoặc tham gia các hoạt động học thuật liên quan.

Điều 7Nguyên tắc hoạt động

Khi triển khai hoạt động, Hội phải tuân thủ pháp luật và chuẩn mực học thuật, kiên trì thẩm định độc lập và công khai thông tin, không tiến hành các hoạt động không liên quan đến tôn chỉ hoặc có thể làm tổn hại uy tín học thuật.

Chương III

Hội viên

Điều 8Tư cách và chế độ hội viên

Hội thực hiện chế độ danh hiệu và chế độ đề cử theo lời mời. Các cá nhân và đơn vị ủng hộ Điều lệ, tán thành tôn chỉ của Hội, có uy tín và đóng góp học thuật tương xứng trong lĩnh vực kinh tế và tài chính, qua đề cử, thẩm định và thẩm nghị được tiếp nhận hoặc trao danh hiệu trở thành hội viên của Hội. Hội viên gồm hội viên cá nhân và hội viên đơn vị; hội viên của Hội không thu hội phí.

Điều 9Danh hiệu và loại hình hội viên

Hội viên của Hội được phân thành năm loại sau theo địa vị học thuật, mức độ tham gia và đóng góp. Viện sĩ, Hội viên cao cấp và Hội viên tạo thành hội viên chính thức, được hưởng đầy đủ quyền lợi hội viên; hội viên thông tấn và viện sĩ danh dự được hưởng các quyền lợi hội viên khác ngoài quyền biểu quyết, quyền bầu cử và quyền ứng cử:

  1. Viện sĩ (Fellow): danh hiệu hội viên cao nhất của Hội, trao cho các học giả có đóng góp xuất sắc và địa vị học thuật được công nhận trong nghiên cứu kinh tế và tài chính;
  2. Hội viên cao cấp (Senior Member): hội viên nòng cốt có thâm niên học thuật và thành quả nghiên cứu nổi bật, được tiếp nhận qua đề cử;
  3. Hội viên (Member): hội viên chính thức được tiếp nhận qua đề cử và thẩm định, hoạt động trong nghiên cứu kinh tế tài chính hoặc công việc liên quan;
  4. Hội viên thông tấn (Corresponding Member): các học giả và tổ chức ở nước ngoài hoặc liên vùng, tham gia nghiên cứu và giao lưu của Hội theo hình thức thông tấn;
  5. Viện sĩ danh dự (Honorary Fellow): danh hiệu vinh dự do Hội mời và trao cho những người có đóng góp xuất sắc đối với Hội hoặc sự nghiệp học thuật kinh tế.

Điều 10Quy trình tuyển chọn

Hội viên được hình thành qua đề cử, không nhận đăng ký tự do công khai từ xã hội, thực hiện theo quy trình sau:

  1. Do Viện sĩ, Hội viên cao cấp, hội viên đơn vị hoặc ủy ban chuyên môn đề cử, nộp lý lịch học thuật và thành quả tiêu biểu;
  2. Qua rà soát hình thức của Ban Thư ký và thẩm định độc lập của Hội đồng Chuyên gia, thực hiện hồi tránh lợi ích;
  3. Qua Ban Thường vụ Ban Chấp hành thẩm nghị quyết định tiếp nhận; Viện sĩ và viện sĩ danh dự do Ban Chấp hành thẩm nghị trao tặng;
  4. Tư cách hội viên có hiệu lực kể từ ngày quyết định, nhận thẻ hội viên và giấy chứng nhận danh hiệu; thông tin hội viên được đăng ký, cập nhật và bảo vệ theo quy định.

Điều 11Quyền của hội viên

Hội viên được hưởng các quyền sau:

  1. Tham gia hoạt động của Hội và sử dụng tài nguyên nghiên cứu;
  2. Tham gia thẩm định, đào tạo và giao lưu học thuật;
  3. Đưa ra ý kiến và kiến nghị về công tác của Hội, đồng thời giám sát công tác đó;
  4. Bầu cử, ứng cử và biểu quyết theo Điều lệ (hội viên chính thức);
  5. Đề cử các học giả hoặc tổ chức đủ điều kiện trở thành hội viên, và xin thăng danh hiệu hội viên theo thành tựu;
  6. Tự nguyện xin ra khỏi Hội.

Điều 12Nghĩa vụ của hội viên

Hội viên phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

  1. Tuân thủ Điều lệ và các nghị quyết của Hội;
  2. Giữ vững liêm chính học thuật, bảo vệ danh tiếng và chuẩn mực học thuật của Hội;
  3. Đảm nhận và hoàn thành đúng cam kết các công việc thẩm định, nghiên cứu và tư vấn được giao;
  4. Dùng kiến thức chuyên môn hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, thẩm định và bồi dưỡng nhân tài của Hội;
  5. Không tự ý nhân danh Hội để tiến hành hoạt động đối ngoại hoặc ký kết văn bản.

Điều 13Ra khỏi Hội và khai trừ

Hội viên có thể tự nguyện xin ra khỏi Hội; người không có lý do chính đáng mà lâu ngày không thực hiện nghĩa vụ thì có thể bị hủy tư cách hội viên theo quy định; người vi phạm nghiêm trọng Điều lệ hoặc chuẩn mực học thuật, qua nghị quyết của Ban Chấp hành có thể bị thu hồi tư cách hội viên hoặc danh hiệu.

Chương IV

Cơ cấu tổ chức

Điều 14Đại hội đại biểu hội viên

Đại hội đại biểu hội viên là cơ quan quyền lực cao nhất của Hội, thực hiện các quyền hạn sau; nghị quyết của Đại hội phải được đa số hội viên có mặt thông qua mới có hiệu lực:

  1. Xây dựng và sửa đổi Điều lệ;
  2. Bầu cử và bãi nhiệm thành viên Ban Chấp hành và Ban Kiểm soát;
  3. Thẩm nghị và phê chuẩn báo cáo công tác và báo cáo tài chính;
  4. Quyết định phương hướng phát triển và các vấn đề trọng đại khác của Hội.

Điều 15Ban Chấp hành và Ban Thường vụ

Ban Chấp hành là cơ quan chấp hành của Đại hội đại biểu hội viên, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Đại hội; Ban Thường vụ do Ban Chấp hành bầu chọn lập nên, xử lý các sự vụ trọng đại trong thời gian giữa hai kỳ họp và chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành.

Điều 16Người phụ trách

Hội có một Chủ tịch và một số Phó Chủ tịch, do Ban Chấp hành bầu ra; có một Tổng Thư ký chủ trì công việc thường nhật của Ban Thư ký. Chủ tịch là người đại diện theo pháp luật của Hội, chủ trì công tác toàn diện; Ban Thư ký đảm nhận các chức năng như tổ chức, chuẩn bị hội nghị, công bố thành quả, phục vụ hội viên và liên lạc đối ngoại.

Điều 17Cơ quan chuyên môn

Hội lập Hội đồng Chuyên gia để độc lập chủ trì việc thẩm định học thuật, lập Hội đồng Cố vấn để cung cấp tư vấn chiến lược và chuyên môn, lập Ban Kiểm soát để độc lập thực thi quyền giám sát; các cơ quan vận hành theo Điều lệ và quy chế nghị sự, phối hợp và kiềm chế lẫn nhau.

Điều 18Các phòng ban chức năng

Dưới Ban Chấp hành lập các phòng ban chức năng như nghiên cứu, thẩm định và khen thưởng, hội viên và đào tạo, diễn đàn và hợp tác, phương pháp nghiên cứu và chuyển hóa thành quả, thông tin và truyền thông, phối hợp theo phân công nhiệm vụ; khi được phê duyệt có thể lập chi nhánh hoặc ban công tác.

Điều 19Hội nghị và nhiệm kỳ

Đại hội đại biểu hội viên thường họp mỗi năm một lần, hội nghị Ban Chấp hành thường họp mỗi quý một lần; người phụ trách khi hết nhiệm kỳ phải chuyển giao nhiệm kỳ đúng hạn. Các vấn đề trọng đại được quyết định qua thẩm nghị tập thể và thực hiện chế độ hồi tránh lợi ích.

Chương V

Thẩm định học thuật và đạo đức

Điều 20Thẩm định độc lập

Hội thực hiện chế độ thẩm định đồng nghiệp. Việc thẩm định do Hội đồng Chuyên gia độc lập chủ trì, áp dụng cơ chế nhiều vòng kết hợp rà soát hình thức, sơ khảo độc lập và phúc khảo chéo; quá trình và kết luận thẩm định không chịu sự can thiệp của hành chính, bên tài trợ hay bất kỳ yếu tố bên ngoài nào.

Điều 21Hồi tránh và bảo mật

Người tham gia thẩm định phải chủ động khai báo và hồi tránh những vấn đề có liên quan lợi ích với bản thân; có nghĩa vụ bảo mật đối với tài liệu thẩm định và các kết luận chưa công bố; tiêu chí và kết quả thẩm định được công bố theo quy định, chịu sự giám sát.

Điều 22Liêm chính học thuật

Hội đề xướng và bảo vệ liêm chính học thuật, phản đối các hành vi sai phạm học thuật như đạo văn, ngụy tạo, sửa đổi và ghi tên không chính đáng; đối với các hành vi sai phạm đã được xác minh là đúng, xử lý theo các quy định và nghị quyết liên quan.

Chương VI

Quản lý tài sản

Điều 23Nguồn kinh phí

Nguồn kinh phí của Hội bao gồm các khoản thu hợp pháp sau; kinh phí chỉ dùng cho các hoạt động nghiệp vụ quy định trong Điều lệ, không phân chia cho hội viên:

  1. Các khoản quyên góp và tài trợ hợp pháp;
  2. Thu nhập từ đề tài, dự án và tư vấn;
  3. Thu nhập từ hoạt động và đào tạo;
  4. Các nguồn thu hợp pháp khác.

Điều 24Chế độ tài chính

Hội thực hiện chế độ tài chính tuân thủ quy định, lập dự toán và quyết toán hằng năm và chịu sự kiểm toán; tài trợ kinh phí và thẩm định học thuật được tách bạch nghiêm ngặt, bên tài trợ không được tác động dưới bất kỳ hình thức nào đến quá trình và kết luận thẩm định.

Điều 25Giám sát và công khai

Công tác quản lý tài chính và tài sản của Hội chịu sự giám sát của Ban Kiểm soát và Đại hội đại biểu hội viên, các vấn đề tài chính quan trọng được công khai theo quy định; khi chuyển nhiệm kỳ hoặc thay đổi người phụ trách, phải tiến hành kiểm toán và bàn giao tài chính theo quy định.

Chương VII

Sửa đổi và chấm dứt điều lệ

Điều 26Sửa đổi điều lệ

Việc sửa đổi Điều lệ này phải được Ban Chấp hành thẩm định và đề xuất, trình Đại hội đại biểu hội viên biểu quyết thông qua mới có hiệu lực thi hành; Điều lệ sau khi sửa đổi được đăng ký theo quy định liên quan.

Điều 27Chấm dứt và thanh lý

Trường hợp Hội cần chấm dứt hoạt động vì lý do nào đó, phải được Đại hội đại biểu hội viên nghị quyết và thực hiện các thủ tục liên quan theo quy định; phải hoàn tất thanh lý trước khi chấm dứt, tài sản còn lại sau khi chấm dứt được sử dụng vào các mục đích liên quan đến tôn chỉ của Hội theo quy định liên quan.

Chương VIII

Điều khoản thi hành

Điều 28Quy định kèm theo

Các quy chế nghị sự, quy trình thẩm định và quy chế quản lý do Hội ban hành riêng là quy định kèm theo của Điều lệ này và có hiệu lực ràng buộc ngang với Điều lệ này.

Điều 29Giải thích và hiệu lực

Những vấn đề chưa được quy định trong Điều lệ này sẽ được thực hiện theo các quy định liên quan và nghị quyết của Đại hội đại biểu hội viên; quyền giải thích Điều lệ này thuộc về Ban Chấp hành của Hội, có hiệu lực kể từ ngày được Đại hội đại biểu hội viên thông qua.