Dùng cơ chế nhiều vòng, độc lập và có thể truy nguyên để bảo đảm sự công bằng và uy tín của việc thẩm định.
Cơ chế thẩm định áp dụng cho các loại thẩm định của Hội như lập đề tài, thành quả nghiên cứu và sách trắng, Giải thưởng Kinh tế Kim Âu và báo cáo chuyển hóa thành quả. Mọi hoạt động thẩm định được tiến hành theo quy trình và tiêu chuẩn thẩm định thống nhất, thực hiện quản lý khép kín "khai báo tránh xung đột lợi ích — sơ đánh giá độc lập — phúc đánh giá chéo — chung đánh giá cuối tập thể — công khai giám sát"; ý kiến và điểm số ở bất kỳ khâu nào đều được lưu vết và lưu trữ, bảo đảm quá trình nghiêm ngặt và kết luận có thể truy nguyên.
Sau khi tiếp nhận, Ban Thư ký tiến hành thẩm tra hình thức và tính tuân thủ đối với hồ sơ đăng ký, kiểm tra tính đầy đủ, tính xác thực và tư cách đăng ký, đồng thời xác minh xem có phù hợp với yêu cầu về hướng và loại hình hay không. Trường hợp hồ sơ thiếu hoặc không phù hợp sẽ được thông báo bổ sung một lần; trường hợp quá hạn không bổ sung hoặc không đủ tư cách thì không được vào vòng thẩm định.
Trước khi khởi động thẩm định, chuyên gia dự kiến tham gia thẩm định phải đối chiếu với danh mục tránh xung đột lợi ích và khai báo từng mục; bất kỳ ai có quan hệ lợi ích với người đăng ký như thầy-trò, đồng nghiệp, hợp tác, cạnh tranh hay thân nhân gần đều phải tránh, không tham gia thẩm định và biểu quyết đối với vấn đề đó, và sẽ được nhóm thẩm định chỉ định người khác thay thế.
Nhóm thẩm định chuyên ngành chỉ định số chuyên gia không ít hơn quy định theo hướng nghiên cứu để thẩm định độc lập, đưa ra đánh giá, điểm số và ý kiến riêng theo các chiều chấm điểm thống nhất. Việc thẩm định thực hiện theo hình thức phản biện kín, các chuyên gia không thông tin cho nhau, thông tin thẩm định và danh tính chuyên gia được bảo mật nghiêm ngặt.
Đối với các dự án có độ phân tán điểm sơ đánh giá lớn, tồn tại bất đồng nghiêm trọng hoặc liên quan đến thành quả quan trọng, sẽ khởi động phúc đánh giá chéo, do một nhóm chuyên gia khác thẩm định lại; khi cần thiết sẽ tăng số vòng thẩm định hoặc tổ chức bảo vệ, cho đến khi hình thành ý kiến thẩm định ổn định, đáng tin cậy.
Hội đồng Chuyên gia thảo luận tập thể ý kiến sơ đánh giá và phúc đánh giá, biểu quyết theo quy tắc để hình thành kết luận đánh giá cuối; kết luận được đưa ra dưới danh nghĩa tập thể, không do cá nhân quyết định, những người thuộc diện tránh xung đột lợi ích không tham gia biểu quyết tương ứng.
Kết quả đánh giá cuối và tiêu chuẩn thẩm định được công khai theo quy định, chịu sự giám sát của xã hội và đồng nghiệp; trong thời gian công khai sẽ tiếp nhận khiếu nại, do Ban Kiểm soát và Hội đồng phúc tra xử lý theo trình tự, kết luận phúc tra được lưu trữ cùng hồ sơ.
Cơ chế thẩm định áp dụng thống nhất cho bốn loại công tác thẩm định của Hội, tiêu chuẩn nhất quán, trình tự nhất quán, không phân biệt đối xử theo thân phận của người đăng ký.
Thẩm định hồ sơ đăng ký phê duyệt đề tài nghiên cứu, đánh giá giá trị của chủ đề, tính khả thi của phương án nghiên cứu và mức độ phù hợp về nguồn lực.
Bình duyệt đồng cấp đối với báo cáo nghiên cứu, nghiên cứu chuyên đề và sách trắng, xác nhận độ tin cậy của phương pháp, dữ liệu và kết luận.
Chủ trì việc thẩm định các hạng mục giải thưởng, thực hiện xét duyệt hình thức, sơ tuyển độc lập, phúc tra chéo và công bố kết quả chung tuyển.
Thẩm định mục tiêu ứng dụng, căn cứ nghiên cứu, khả năng thực hiện và cơ chế theo dõi kết quả chuyển hóa.
Việc thẩm định do Ban Thư ký, Tổ đánh giá chuyên ngành, Hội đồng Chuyên gia và Ban Kiểm soát phối hợp phân công, tách biệt giữa tổ chức và đánh giá, giữa đánh giá và giám sát.
Chịu trách nhiệm tiếp nhận, xét duyệt hình thức, tổ chức quy trình, đôn đốc thời hạn và quản lý hồ sơ, là trung tâm tổ chức của công tác thẩm định; không tham gia chấm điểm chuyên môn, chỉ bảo đảm tính quy phạm của quy trình và tiến độ.
Thẩm định tập thể các ý kiến sơ tuyển và phúc tra, hình thành kết luận chung tuyển, xây dựng và giải thích tiêu chuẩn và quy trình thẩm định, chịu trách nhiệm về tính chuyên môn và tính công bằng của việc thẩm định.
Được thành lập theo bốn hướng nghiên cứu chính, chỉ định chuyên gia, đảm nhận sơ tuyển độc lập và phúc tra chéo, trực tiếp làm việc với tài liệu chuyên môn để đưa ra đánh giá và chấm điểm, là tuyến đầu của công tác thẩm định.
Độc lập với công tác đánh giá, giám sát việc tránh xung đột lợi ích, bảo mật và tính quy phạm của quy trình, tiếp nhận khiếu nại và kháng nghị, thúc đẩy phúc tra, bảo đảm toàn bộ quá trình thẩm định có thể quy trách nhiệm.
Thẩm định thông thường được hoàn thành trong khoảng sáu đến tám tuần kể từ khi tiếp nhận, mỗi khâu đều có thời hạn rõ ràng và được theo dõi toàn trình, đôn đốc khi quá hạn.
Ban Thư ký tiếp nhận hồ sơ đăng ký, hoàn thành việc đăng ký và cấp mã số thẩm định, xác nhận hạng mục thẩm định và hướng nghiên cứu áp dụng.
Kiểm tra tính đầy đủ, tính xác thực của hồ sơ và tư cách đăng ký; đối với hồ sơ chưa đầy đủ sẽ thông báo bổ sung một lần, thời gian bổ sung được tính riêng.
Các chuyên gia dự kiến khai báo từng mục theo danh mục tránh xung đột lợi ích, tổ đánh giá căn cứ vào đó chỉ định số lượng chuyên gia thẩm định độc lập không ít hơn mức quy định.
Chuyên gia chấm điểm ẩn danh theo các tiêu chí chấm điểm thống nhất và đưa ra ý kiến bằng văn bản, thông tin thẩm định và danh tính chuyên gia được bảo mật toàn trình.
Khởi động phúc tra chéo đối với các đề tài có nhiều bất đồng hoặc liên quan đến thành quả quan trọng, khi cần thiết tổ chức bảo vệ hoặc tăng số vòng thẩm định.
Hội đồng Chuyên gia thẩm định tập thể, biểu quyết theo quy tắc để hình thành kết luận chung tuyển, người thuộc diện tránh xung đột không tham gia biểu quyết tương ứng.
Kết quả thẩm định và tiêu chuẩn được công bố theo quy định không ít hơn 7 ngày, trong thời gian công bố tiếp nhận khiếu nại và kháng nghị để phúc tra xử lý.
Trên đây là thời hạn tham chiếu của thẩm định thông thường; đối với các đề tài trọng điểm, bảo vệ hoặc bổ sung hồ sơ có thể gia hạn theo quy định, lý do gia hạn và thời hạn mới được thông báo bằng văn bản cho người đăng ký.
Bảng chấm điểm thống nhất gồm năm tiêu chí, mỗi tiêu chí có điểm số và trọng số rõ ràng, chấm điểm định lượng, tổng hợp và xếp hạng.
Ý nghĩa thực tiễn của chủ đề, giá trị về chính sách và ngành nghề, cùng tính rõ ràng và trọng tâm của vấn đề nghiên cứu.
Tính khoa học và tính áp dụng của phương pháp nghiên cứu, độ tin cậy, chuẩn thống kê và khả năng kiểm chứng của nguồn dữ liệu.
Tính chặt chẽ về logic, tính đầy đủ của bằng chứng, sự nhất quán và tính vững chắc giữa kết luận và luận cứ.
Mức độ đổi mới về quan điểm, phương pháp hoặc bằng chứng, và đóng góp biên đối với học thuật và thực tiễn.
Chuẩn mực về viết và trích dẫn, đạo đức và tuân thủ trong nghiên cứu, cùng khả năng tái lập của thành quả.
Từng tiêu chí được chấm theo bảng chấm điểm thống nhất và tổng hợp có trọng số; loại bỏ điểm bất thường rồi lấy trung bình, đề tài có độ phân tán quá lớn tự động chuyển sang phúc tra chéo.
Kết luận thẩm định chia thành bốn cấp, được đưa ra tập thể căn cứ vào điểm số và ý kiến thẩm định, đều thông báo lý do và căn cứ bằng văn bản.
Điểm số đạt chuẩn, không có vấn đề lớn, trực tiếp đạt và chuyển sang khâu công bố.
Về tổng thể đạt yêu cầu nhưng còn vấn đề có thể khắc phục, chỉnh sửa trong thời hạn theo ý kiến thẩm định, bản chỉnh sửa sau khi phúc tra xác nhận thì đạt.
Có bất đồng lớn hoặc cần bổ sung hồ sơ, tạm hoãn kết luận; thẩm định lại sau khi bổ sung hoặc bảo vệ.
Không đáp ứng tiêu chuẩn cơ bản hoặc có khiếm khuyết thực chất, không được đạt, thông báo bằng văn bản lý do và cơ chế khiếu nại.
Ngưỡng điểm cụ thể và tỷ lệ phân loại của từng hạng mục được xác định và công bố theo phương án thẩm định của năm; kết luận và các ý kiến thẩm định chính được phản hồi cùng lúc cho bên đề cử và người được đề cử.
Sáu quy tắc xuyên suốt toàn bộ quá trình thẩm định, cung cấp sự bảo đảm về thể chế cho việc đánh giá nghiêm ngặt, công bằng và có thể truy vết.
Trước khi thẩm định, người thẩm định chủ động khai báo và tránh các sự việc có liên quan lợi ích với bản thân, bao gồm quan hệ thầy trò, đồng nghiệp, hợp tác, cạnh tranh và thân nhân gần; thành viên tránh xung đột không tiếp cận tài liệu liên quan, không tham gia thảo luận và biểu quyết, được tổ đánh giá chỉ định người khác thay thế, bảo đảm tính trung lập của việc thẩm định.
Tài liệu thẩm định, danh tính chuyên gia, điểm số và kết luận chưa công bố đều thuộc diện bảo mật, không được tiết lộ, sao chép hoặc sử dụng vào bất kỳ mục đích nào ngoài việc thẩm định; người vi phạm quy định bảo mật và tránh xung đột sẽ bị hủy tư cách thẩm định và bị truy cứu trách nhiệm theo quy định.
Sơ tuyển thực hiện chấm điểm ẩn danh và độc lập, các chuyên gia không trao đổi với nhau; việc thẩm định chỉ dựa vào tài liệu và tiêu chuẩn thống nhất để đưa ra phán đoán, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hành chính, tổ chức hay quan hệ cá nhân.
Công tác thẩm định được tách biệt nghiêm ngặt với tài trợ kinh phí, bên tài trợ và người liên quan không được tham gia thẩm định, không được tiếp cận thông tin thẩm định, không được tác động dưới bất kỳ hình thức nào đến quá trình và kết luận thẩm định.
Khiếu nại đối với kết luận thẩm định có thể được nêu bằng văn bản theo quy định trong thời gian công bố, do Ban Kiểm soát và Hội đồng Chuyên gia lập thành quy trình phúc tra xử lý độc lập; dù phúc tra giữ nguyên hay thay đổi kết luận đều nêu lý do và lưu hồ sơ, kết quả được phản hồi bằng văn bản.
Từ tiếp nhận, tránh xung đột, sơ tuyển, phúc tra đến chung tuyển và công bố, tài liệu, ý kiến, điểm số và nghị quyết của từng khâu đều được lưu vết và lưu trữ toàn trình, có thể phúc tra, có thể truy xuất, chịu sự giám sát quá trình của Ban Kiểm soát.
Thẩm định thực hiện các ràng buộc cứng về số lượng, thời hạn và truy cứu trách nhiệm, bảo đảm nghiêm ngặt, đúng hạn và có thể quy trách nhiệm.
Mỗi đề tài do số lượng chuyên gia không ít hơn mức quy định thẩm định độc lập; trường hợp có bất đồng hoặc thành quả quan trọng bắt buộc chuyển sang phúc tra chéo, nếu sau phúc tra vẫn còn nghi vấn thì trình Hội đồng thẩm định, không đặt giới hạn cho đến khi kết luận ổn định.
Trong giai đoạn sơ tuyển, người đăng ký và người thẩm định ẩn danh hai chiều, các người thẩm định không biết danh tính và điểm số của nhau; trong thời gian thẩm định không được tiếp xúc riêng với người đăng ký hoặc trao đổi ra bên ngoài về nội dung thẩm định.
Xét duyệt hình thức, sơ tuyển, phúc tra, chung tuyển và công bố đều có thời hạn rõ ràng và được theo dõi toàn trình; các khâu quá hạn chưa xử lý do Ban Thư ký đôn đốc, bảo đảm quy trình khép kín đúng hạn.
Người vi phạm quy định về tránh xung đột, bảo mật, che kép hoặc kỷ luật, tùy mức độ sẽ bị hủy tư cách thẩm định, thông báo và ghi vào hồ sơ tín nhiệm thẩm định; hồ sơ đăng ký gian dối một khi xác minh sẽ bị hủy tư cách.
Xây dựng hồ sơ tín nhiệm thẩm định của chuyên gia, làm căn cứ cho phúc tra và thăng tiến hằng năm; chuyên gia thẩm định cùng một hướng được luân chuyển định kỳ, tránh cố định lâu dài.
Tiêu chuẩn, quy trình và kết quả thẩm định được công bố theo quy định; người đăng ký có thể kháng nghị bằng văn bản về quy trình hoặc kết luận trong thời gian công bố, được xử lý qua quy trình phúc tra độc lập và trả lời bằng văn bản.